• Loading...
 
Trấn Yên mở rộng diện tích cây trồng chủ lực
30/03/2023 8:38:00 SA

Sau một thời gian dài loay hoay với bài toán "cây, con", thử nghiệm có thành công và cả thất bại, đến nay Trấn Yên đã xác định được những cây, con chủ lực trong phát triển kinh tế địa phương. Trong đó, không thể không nói tới cây tre măng Bát độ, cây dâu tằm, cây quế, cây ăn quả có múi…, là những cây trồng mỗi năm mang về cho Trấn Yên cả trăm tỷ đồng.

Trồng dâu nuôi tằm mang lại giá trị thu nhập trên 200 triệu đồng/ha cho nông dân Trấn Yên.

 

Trấn Yên hôm nay đã quy hoạch phát triển vùng cây sản xuất hàng hóa có diện tích, sản lượng cao không chỉ là cây xóa đói, giảm nghèo mà thực sự là cây hạnh phúc, cây làm giàu, cây xây dựng nông thôn mới bền vững. Vào những năm 2000, Trấn Yên đưa cây tre măng Bát độ vào trồng, nhiều người còn hoài nghi về tính hiệu quả kinh tế của nó.

Bằng những mô hình, những héc-ta tre măng đầu tiên được trồng thử nghiệm ở Hồng Ca, Kiên Thành đã bén rễ, hợp đất hợp người nơi đây và phát triển tốt, lứa măng đầu tiên cho thu hoạch đã minh chứng rõ nét cho tính hiệu quả. 

Vừa làm vừa kiên trì vận động, đến năm 2003 bắt đầu phát triển mở rộng ở xã vùng cao Kiên Thành. Tre măng Bát độ là cây trồng khá dễ tính, nhanh cho thu hoạch, sau trồng một năm đã cho lứa măng đầu tiên, sau 3 năm kiến thiết cơ bản thì vào vụ kinh doanh chính, chăm sóc tốt cho thu nhập 35 - 40 triệu đồng/ha/năm, cao gấp nhiều lần các loại cây nguyên liệu giấy. 

Từ những héc-ta tre măng trồng thử nghiệm đầu tiên, nay Trấn Yên đã phát triển hình thành vùng tre măng Bát độ hàng hóa lớn nhất tỉnh. Những triền đồi, núi ở Kiên Thành, Hồng Ca, Hưng Khánh, Lương Thịnh, Việt Hồng… trơ trọi thủa nào, nay đã được phủ xanh bằng tre măng Bát độ. Sản lượng măng thu được trong năm 2022 đạt trên 31.000 tấn, bán với giá bình quân 5.500 đồng/kg cũng đem về cho người dân gần 200 tỷ đồng. 

Những năm đầu mỗi khi vào mùa thu hoạch, người dân lại lo lắng cho đầu ra sản phẩm, nhưng giờ đã có sự liên kết, liên doanh với các công ty, nhà máy, các hợp tác xã (HTX) thu mua bao tiêu toàn bộ sản phẩm, người dân vừa đi thu hoạch măng vùa là công nhân sơ chế, chế biến. Công ty TNHH Vạn Đạt có hàng chục điểm thu mua tập trung tại các vùng nguyên liệu. 

Công ty cổ phần Yên Thành thu mua thông qua các HTX như: HTX Dịch vụ tổng hợp Hồng Ca, HTX Dịch vụ tổng hợp Kiên Thành… Bên cạnh đó, các tư thương ở khắp nơi đổ về vùng nguyên liệu thu mua với giá cao để chế biến măng khô. Một số HTX đã xây dựng, chế biến sản phẩm măng tre Bát độ đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao, 4 sao như sản phẩm măng giòn của Công ty TNHH An Dũng, măng xé sợi của HTX Dịch vụ tổng hợp Hồng Ca. Sản phẩm từ măng tre Bát độ Trấn Yên đã được xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc… 

Để tiếp tục mở rộng và phát huy hiệu quả cây tre măng Bát độ, năm 2023 Trấn Yên tiếp tục trồng mới, trồng cải tạo 200 ha và tiếp tục mở rộng vùng trồng ra các xã có lợi thế; chuyển nhiều diện tích trồng cây nguyên liệu giấy kém hiệu quả sang trồng tre măng Bát độ. 

Gia đình ông Bùi Văn Oánh ở thôn Bản Phạ, xã Việt Hồng chuyển đổi 5,5 ha đất rừng kém hiệu quả sang trồng tre măng Bát độ. Năm nay, xã Việt Hồng trồng mới 23 ha tre măng Bát độ, đến nay xã đã cơ bản hoàn thành kế hoạch. 

Theo kế hoạch, toàn huyện Trấn Yên trồng mới 200 ha nhưng chưa hết tháng 3, nhân dân đã đăng ký, phát dọn thực bì, đào hố trồng được trên 230 ha, dự kiến đến hết vụ trồng đạt trên 250 ha. Huyện phấn đấu đến năm 2025 phát triển mở rộng vùng chuyên canh tre măng Bát độ trên 4.000 ha, sản lượng khai thác măng đạt trên 40.000 tấn, giá trị mang lại đạt 250 tỷ đồng.

 Bên cạnh cây tre măng Bát độ, huyện tiếp tục mở rộng vùng trồng dâu nuôi tằm, với quyết tâm xây dựng trở thành ngành kinh tế chủ lực của địa phương. Hiện toàn huyện đã trồng và phát triển vùng trồng dâu với quy mô trên 800 ha, thu hút trên 2.000 hộ dân tham gia nuôi tằm, trong đó có 1.500 hộ nuôi tằm lấy kén. Bình quân mỗi năm từ trồng dâu, nuôi tằm mang về cho người dân trên 100 tỷ đồng. 

Để phát triển bền vững nghề trồng dâu, nuôi tằm, ngoài các cơ chế, chính sách hỗ trợ của tỉnh, huyện tập trung khuyến khích nhân dân trồng dâu bằng giống mới cho năng suất, chất lượng cao; ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như nuôi tằm trên nền nhà thay cho nuôi bằng nong, vừa giảm chi phí đầu tư lại tiết kiệm thời gian lao động; hay như chuyển từ né tre sang né gỗ vuông, rút ngắn thời gian cắm né mà chất lượng tơ lại cao hơn, năng suất hơn. 

Gia đình ông Nguyễn Văn Hà ở thôn Lan Đình đã chuyển 50% diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả sang trồng dâu, nuôi tằm, nhờ vậy mỗi năm gia đình có thu nhập ổn định từ 220 - 240 triệu đồng. 

Để tiêu thụ hết sản lượng kén cho nông dân, Dự án Nhà máy ươm tơ tự động đã được xây dựng tại xã Báo Đáp có tổng vốn đầu tư trên 50 tỷ đồng với hai dây chuyền ươm tơ đã đi vào hoạt động, công suất 150 tấn tơ/năm, tương đương 1.100 tấn kén. Sản phẩm của nhà máy đã được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Ấn Độ và các nước châu Âu. Tiếp tục đưa cây dâu, con tằm thành nghề và trở thành ngành kinh tế chủ lực, Trấn Yên chủ trương mở rộng diện tích trồng dâu, nuôi tằm. 

Năm 2023 này huyện sẽ mở rộng thêm 102 ha dâu trên các tràn ruộng cao kém hiệu quả và dọc theo các bãi ven sông, suối tại các địa phương. Huyện tập trung mở rộng diện tích ở 15 xã, trong đó có xã Minh Quân và Vân Hội là năm đầu thực hiện trồng dâu nuôi tằm. Đến nay, các xã đã tiến hành trồng được trên 70% kế hoạch. Huyện duy trì 23 mô hình nuôi tằm liên kết với các tổ hợp tác, HTX và công ty, phấn đấu sản lượng 2023 đạt 1.400 tấn kén, doanh thu đạt trên 250 tỷ đồng. 

Việc mở rộng diện tích cây trồng chủ lực đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao là một hướng đi đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển nông nghiệp hiện nay đang nhận được sự quan tâm ủng hộ của nhân dân các dân tộc trong huyện và là cơ sở để xây dựng Trấn Yên ngày một phát triển bền vững.

Nguồn YBĐT

https://baoyenbai.com.vn/12/271920/Tran-Yen-mo-rong-dien-tich-cay-trong-chu-luc.htm?fbclid=IwAR0-xI_5hrau8Wf_OMdjXyo7i2EHkRVUulE1014uYtTxwiVApPHOklBaKvc

 

 

VĂN BẢN HỘI

Kế hoạch số 46-KH/HNDT ngày 04/6/2024 về Thực hiện Quyết định số 182/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Hội Nông dân Việt Nam tham gia phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp đến năm 2030” năm 2024

Báo cáo số 81-BC/HNDT ngày 03/6/2024, Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Đề án “Phát huy vai trò của các cấp Hội và hội viên nông dân trong tham gia bảo vệ môi trường nông thôn tỉnh Yên Bái ” giai đoạn 2019-2023

Nghị quyết số 05-NQ/HNDT ngày 03/6/2024 về Tiếp tục thực hiện Đề án số 01-ĐA/HNDT ngày 29/5/2019 của Ban chấp hành Hội Nông dân tỉnh Yên Bái về “Phát huy vai trò của các cấp Hội và hội viên nông dân trong tham gia bảo vệ môi trường nông thôn tỉnh Yên Bái ”

Luật số 90/2015/QH13 ngày 23/11/2015 của Quốc Hội: Luật Khí tượng thủy văn

Nghị quyết số 09/2024/NQ-HĐND ngày 19/4/2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh về Quy định mức giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế mà không phải là dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Nghị quyết số 11/2024/NQ -HĐND ngày 19/4/2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc sửa đổi điểm b khoản 3Điều 1 Nghị quyết số 71/NQ/HĐND ngày 16/12/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái về việc thông qua một số Đề án phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Yên Bái giai đoạn 2021-2025

Nghị quyết số 10/2024/NQ -HĐND ngày 19/4/2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh về Quy định mức thu học phí hằng năm đối với các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2023-2024 trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Nghị quyết số 09/2024/NQ – HĐND ngày 19/4/2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh về Quy định mức giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế mà không phải dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Yên Bái

THƯ VIỆN ẢNH

      

Thư viện Video